Trà Thái Nguyên - Nghệ thuật và nét văn hóa Việt
Từ xưa, chè Thái Nguyên đã nổi tiếng thơm, ngon, được dân gian xếp hạng “Đệ nhất danh trà”. Cả trăm năm nay giữa mưa nắng và bao kiếp người, cây chè vẫn lặng lẽ chắt gạn tinh túy của đất trời, để gói ghém trong mỗi chén trà những dư vị cuộc đời, những chát đắng, ngọt ngào cùng triết lý nhân sinh được người Việt gìn giữ qua bao thế hệ.
Chén trà kể chuyện đất và người
Chậm rãi nhấp từng ngụm trà nóng, để vị trà thong thả lan nơi đầu lưỡi. Vị chát dịu dần nhường chỗ cho chút ngọt thanh, quyện cùng hương thơm nhẹ nhàng, sâu lắng. Trong khoảnh khắc ấy, lòng người cũng trở nên thư thái, tĩnh tại hơn. Chén trà không chỉ là một thức uống, mà còn là một thú vui tao nhã, một khoảng lặng để con người tìm về sự thanh tĩnh giữa nhịp sống thường ngày. Từ lâu, thưởng trà đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa ẩm thực truyền thống của người Việt.
Nông dân vùng chè Đồng Hỷ giới thiệu thu hái chè nguyên liệu để chế biến chè đinh thượng hạng.
Nhưng với người sành trà, một chén trà ngon còn là cuộc gặp gỡ giữa đất và người, giữa bàn tay người làm chè với khí hậu, thổ nhưỡng; giữa cái tĩnh của núi đồi với cái động của đời sống xã hội. Và khi chén trà được nâng lên, người thưởng trà cảm nhận sâu sắc trong sắc vàng sóng sánh là cả một miền quê bình yên và bao nông dân tảo tần cùng năm tháng.
Phàm là khi uống trà “người ta” không vội vã. Thường nâng chén ngắm sắc nước, thấy thứ hương của loài thảo mộc thoảng thơm giữa một không gian trà, cảm nhận độ nóng mềm môi rồi mới chiêu từng ngụm nhỏ như để thời gian ngưng lại. Đó là thứ hương thơm dịu dàng đọng lại ở vòm họng, cùng vị ngọt ngào lẩn khuất quanh khoang miệng.
Bởi thế, người vùng chè có quyền tự hào khi nói chuyện chè Thái Nguyên bước vào những thị trường khó tính trên thế giới. Vì sản phẩm chè mang theo tên tuổi một vùng đất, và sau mỗi ấm trà là cả một quá trình thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân. Chè Thái Nguyên đã vượt qua hàng loạt mẫu kiểm định bằng thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn châu Âu MRLs - yêu cầu quan trọng về mức dư lượng tối đa đối với các chất bảo vệ thực vật. Đó là passport để chè Thái Nguyên thông hành vào các thị trường lớn trên thế giới.
Đến nay, tỉnh Thái Nguyên có hơn 200 sản phẩm chè sau chế biến được chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao.
Chia sẻ với chúng tôi, ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên tâm đắc: Từ nhiều năm gần đây, cây chè của tỉnh đã được đa dạng hóa sản phẩm, chế biến tinh, chế biến sâu theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhiều sản phẩm chè của tỉnh đã giành giải cao tại các cuộc thi chè quốc tế.
Với chè Thái Nguyên, câu chuyện về sự “lột xác” của cây chè được đánh dấu bằng nhiều mốc đáng nhớ. Một trong những dấu mốc quan trọng là tháng 9-2017, khi Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý “Tân Cương”. Từ đó, vùng chè Tân Cương trở thành một giá trị được xác lập bằng pháp lý, gắn sản phẩm với địa danh và chất lượng.
Nhưng để chè đạt được chất lượng, thương hiệu như những năm gần đây, bao thế hệ người làm chè Thái Nguyên đã không ngừng thay đổi tư duy, phương thức sản xuất, chế biến chè. Từng lớp lớp nông dân và các thế hệ cán bộ khoa học đã sát cánh, đồng thuận làm cho chè Thái Nguyên xứng tầm với danh hiệu “Trăm năm đệ nhất danh trà”.
Bên bàn trà, nghệ nhân Lê Quang Nghìn, xóm Hồng Thái, xã Tân Cương đăm chiêu vẻ nghĩ suy, rồi đưa chúng tôi trở về một miền ký ức. Vâng! Từ hơn 100 năm trước, cụ Vũ Văn Hiệt, người Hưng Yên đã lên vùng đất Tân Cương cùng người dân khai khẩn đồi bãi, trồng chè. Những búp chè một tôm, hai lá qua bàn tay người thợ sao suốt, gặp nước sôi bung nở, trông tựa đàn chim hạc bay về miền đất lành. Cũng từ đó cái tên chè Cánh Hạc đi vào ký ức của vùng chè.
Du khách nước ngoài thích thú khi thưởng trà Thái Nguyên.
Năm 1935, tại khu Đấu Xảo ở Hà Nội, trong một hội chợ thương mại lớn, chè Cánh Hạc của cụ và người Thái Nguyên đã được tôn vinh giải Nhất. Kể từ bấy giờ thương hiệu “Thái Nguyên đệ nhất danh trà” được tạc vào lịch sử ngành Chè Việt Nam, khắc vào tâm khảm người tiêu dùng trên cả nước, và danh tiếng ấy lan tỏa đến những bàn trà ở Pháp, Ấn Độ và nhiều nước trên thế giới.
Cái nếp làm chè ấy được duy trì phổ biến đến những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước. Rồi cơ chế thị trường mở ra, người vùng chè thỏa sức sáng tạo. Từ những búp chè truyền thống, hàng loạt sản phẩm mới xuất hiện: Chè Nõn Tôm, Đinh Nõn, chè Đinh... Mỗi sản phẩm có một cách thu hái, chế biến để tạo ra một định vị riêng. Nhưng dù tên gọi có thay đổi, cái hồn của trà vẫn nằm ở búp chè và bàn tay người làm. Nên trong hàng vạn người làm chè Thái Nguyên, hiện có rất ít người được Nhà nước vinh danh nghệ nhân trà ưu tú.
Nghệ nhân Đào Thanh Hảo, Giám đốc HTX chè Hảo Đạt, xã Tân Cương là một trong số đó. Bà chia sẻ: Trà ngon không ở màu sắc rực rỡ hoặc hương thơm nồng đượm, mà ngon bởi cả hương và vị đều nhẹ nhàng, kín đáo như nàng sơn nữ vừa độ xuân thì. Thế mới hay vì sao người xưa mê trà đến vậy. Có mặt ở đó, ông Trần Văn Sinh, du khách đến từ Hà Nội góp vui: Cái thú của trà nằm ở chữ “hậu”. Chát mà không đắng. Đậm mà không gắt. Thơm mà không phô. Uống xong rồi mà hương, vị còn ở lại.
Có lẽ cũng vì thế mà những sản phẩm chè một tôm, hai lá ngày nào giống như đàn chim hạc bay về miền cổ tích. Còn những sản phẩm của người làm chè thế hệ mới đang tiếp tục nâng cao chất lượng thương hiệu bằng cách làm mới, kể từ khâu chọn giống, quy trình chăm sóc, thu hái, chế biến và đóng gói sản phẩm. Những doanh nhân trà Thái Nguyên đã và đang mở rộng cánh cửa cho sản phẩm chè đi xa hơn.
Ông Bùi Trọng Dương, xóm Hồng Thái, xã Tân Cương cho biết: Trong gia đình, tôi là thế hệ thứ tư gắn bó với cây chè. Từ đời ông tôi đã có chè bán cho người tiêu dùng bên Pháp, Đức, Nga… Đến nay nương chè của gia đình tôi mỗi năm đón gần 100.000 lượt du khách trong nước, quốc tế đến tham quan, thưởng trà và họ mua chè về làm quà biếu người thân.
Từ búp chè đến thương hiệu
Chị Đặng Thu Hoài, hướng dẫn viên tại Không gian Văn hóa trà Tân Cương (Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên) nói như một đúc kết: Nếu chất lượng là phần hồn, thì thương hiệu chính là cách để cái hồn của chè được nhận biết trên thị trường rõ ràng nhất.
Câu chuyện của chị gợi cho chúng tôi về cách làm thương hiệu của HTX chè Tân Hương, xã Đại Phúc. Đó là một HTX có quy mô sản xuất nhỏ, nhưng đã tạo được thương hiệu lớn. Cuối năm 2011, sản phẩm chè của HTX được tổ chức Solidaridad và Unilever cấp chứng nhận quốc tế UTZ Certified, khẳng định quy trình sản xuất có khả năng truy nguyên nguồn gốc. Là tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững toàn cầu. Sản phẩm đạt chuẩn này có thể thâm nhập dễ dàng vào hầu hết các thị trường khó tính đòi hỏi tiêu chuẩn cao về nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội tại hơn 116 quốc gia, tiêu biểu.
Chất lượng sản phẩm chính là gốc rễ của một thương hiệu mạnh. Điều ấy càng rõ trong câu chuyện của chị Nguyễn Thị Hiền, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Chè Hà Thái, xã An Khánh. Năm 2016, sản phẩm chè Tôm Nõn của Công ty được Hiệp hội Chè Mỹ và Canada trao giải Bạc. Từ nền tảng đó, Công ty tiếp tục hướng tới những sản phẩm chế biến sâu như chè ướp hương, hồng trà, ô long, matcha và các sản phẩm từ trà như tinh dầu trà, cao trà.
Du khách trải nghiệm tại vùng chè Tân Cương.
Bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm chè, những cánh cửa về giá trị không ngừng được mở ra. Câu chuyện của chị Nguyễn Thị Lý, Giám đốc Công ty cổ phần Chè Tân Cương Hoàng Bình lại có một nét thú vị khác. Năm 2017, được Sở Công Thương vận động tham dự cuộc thi Chè đặc sản quốc tế Bắc Mỹ, chị bận rộn nên “lấy đại” sản phẩm chè Đinh Vương Phẩm gửi đi. Không kỳ vọng quá nhiều, chị cũng không nghĩ đến chuyện giải thưởng. Vậy mà ít ngày sau, tin vui đến: Sản phẩm được trao giải Đặc biệt.
Thế mới hay, cái sự đặc biệt có khi lại ở ngay những điều giản đơn nhất. Tôi nghĩ như vậy khi biết mình từng nhiều lần uống loại trà được một tổ chức quốc tế trao giải đặc biệt. Đáng suy ngẫm lắm chứ. Bởi giữa cuộc đời thường lại có những nông dân làm ra sản phẩm đạt đỉnh cao chất lượng, nhưng lại không màng tới bất cứ danh hiệu gì. Chỉ khi đại diện cơ quan Nhà nước đến động viên, khích lệ mới “mang chuông đi gõ xứ người”.
Một điều đặc biệt nữa tôi nhận ra trong chén trà đó là những người trực tiếp làm nên thương hiệu chè Thái Nguyên hôm nay chủ yếu là phái đẹp. Minh chứng như chị Đào Thanh Hảo, Giám đốc HTX chè Hảo Đạt, xã Tân Cương, người góp phần nâng tầm sản phẩm chè Tân Cương thành món quà quý đến với nhiều người trên thế giới. Chị Trần Thị Tuyết, Giám đốc HTX Tuyết Hương, xã Đồng Hỷ, với sản phẩm từng được lựa chọn làm quà tặng tại Hội nghị APEC Việt Nam ở Đà Nẵng năm 2017. Chị Nguyễn Thị Hải, Giám đốc HTX chè La Bằng, huyện Đại Từ, người theo đuổi quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, có sản phẩm được khách hàng đặt mua với giá 66 triệu đồng/kg.
Không phải ngẫu nhiên phụ nữ các vùng chè Thái Nguyên lại có sự tinh tế đặc biệt với trà. Mà bởi kinh nghiệm “cha truyền, con nối”, họ thấu hiểu tường tận sự sinh trưởng, phát triển của cây chè và có cảm nhận tinh tế trong các khâu chế biến, nhất là trong quá trình sao sấy, họ biết chè trong chảo đang cần bao nhiêu nhiệt lượng để điều chỉnh lửa củi. Sự kiên nhẫn của người phụ nữ đã làm các sản phẩm chè có chất lượng, giá trị cao và trở thành một sản phẩm văn hóa.
Hiện trên toàn tỉnh Thái Nguyên có hơn 24.000ha chè, trong đó có 23.000ha chè kinh doanh. Chè được chế biến chè theo 3 hình thức: Chế biến thủ công; chế biến công nghiệp và chế biến công nghệ cao, nhưng phổ thông hơn vẫn là chế biến bán công nghiệp. Đến nay bà con sáng tạo ra khoảng hơn 1.000 sản phẩm chè khác nhau, trong đó có hơn 200 sản phẩm chè sau chế biến được chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao. Tôi còn nhớ trong một lần đến Thái Nguyên làm việc, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho rằng: Ngoài “Tứ đại danh trà” gồm: Tân Cương, La Bằng, Minh Lập và Tức Tranh, tỉnh Thái Nguyên còn có nhiều vùng chè khác cho chất lượng cao.
Từ lâu, cây chè đã trở thành một ngành hàng truyền thống có quy mô, thương hiệu, thị trường và có khả năng tạo ra giá trị kinh tế lớn. Không ít chuyên gia kinh tế ví von: Đằng sau thương hiệu chè Thái Nguyên còn là một bản đồ hương vị… Phải lắm chứ, bởi càng hiểu trà, người ta mới nhận ra trà là một sản phẩm ẩm thực, đồng thời là sự cộng hưởng của thổ nhưỡng và đôi bàn tay khéo léo cùng trí óc sáng tạo của người nông dân.
Chén trà, một nếp sống văn hóa
Nếu chỉ nói về kinh tế, chè Thái Nguyên vẫn chưa thể hiện hết giá trị. Bởi trong chén trà bao chứa cả một nếp sống văn hóa của một quốc gia. Ví như Trung Quốc có trà kinh; Nhật Bản có trà đạo, Việt Nam có trà phong… mỗi dân tộc đều gửi vào trà một cách ứng xử văn hóa với cuộc sống.
Ở Thái Nguyên, trà hiện diện trong đời sống thường nhật theo một cách tự nhiên. Các cụ có câu: “Khách đến nhà không trà cũng rượu”. Trong nhà có việc hỷ đều dùng tới trà. Chén trà trở thành cầu nối giữa con người với con người. Trà làm cho mọi sự trở nên giản đơn hơn. Nghệ nhân trà Mông Đông Vũ nói vui: Phụ nữ vùng chè thường có đôi mắt rất tinh đối với trà. Chỉ cần nhìn ấm trà vừa pha, ngửi một chút hương, nếm một ngụm, họ có thể nhận ra trà được trồng ở vùng đất nào của Thái Nguyên.
Có lẽ ở Việt Nam không có ai vượt qua ông Vũ về sự sành trà và văn hóa trà. Ngoài sở hữu gần 400 bộ ấm trà cổ, ông còn là bậc thầy, trực tiếp hướng dẫn hàng nghìn phụ nữ Thái Nguyên cách pha trà nghệ thuật. Nhờ đó, nhiều nét đẹp văn hóa mời trà của người Việt vốn giản dị mà sâu sắc được thức lại trong nếp sống đời thường hôm nay. Chén trà trở thành một thứ ngôn ngữ không lời, nhưng thể hiện rõ ràng về tâm tư tình cảm, nội tâm của những người bạn đang “quần ẩm”.
Trong thời đại số, các thiết bị điện tử kéo mọi người ra xa nhau hơn. Song ấm trà kéo mọi người gần lại, cùng thưởng thức thứ hương vị trời đất ban tặng và kể cho nhau nghe những câu chuyện tình người. Nhịp sống chậm lại, ý nghĩa hơn bởi đó cũng là lúc mỗi người có thời gian sống thật hơn với chính mình và cho bè bạn. Đáng lắm chứ, bởi đó là một nét đẹp văn hóa thẩm thấu vào xương tủy con người có từ ngàn đời nay.
Chén trà là thế, chậm mà không trì trệ, tĩnh mà gần gũi với đời thực. Đó cũng là lý do tỉnh Thái Nguyên ngày càng chú trọng đến việc nâng tầm văn hóa trà, và hướng tới mục tiêu mỗi người dân là một đại sứ văn hóa trà. Trà là vậy. Không ồn ào mà đi rất xa. Không cần nói nhiều mà vẫn kể được chuyện. Bởi trong một chén trà được gói ghém cả càn khôn, có mồ hôi người lao động và có cả một nếp sống thuần việt.
Bình luận