Đưa trà Thái Nguyên lan tỏa trong kỷ nguyên vươn mình
Mang hành trang lịch sử cả thế kỷ đầy tự hào với danh xưng được cả cộng đồng tôn vinh lên hàng “Đệ nhất danh trà”, Thái Nguyên đang trĩu nặng trên vai một sứ mệnh cao cả: Trở thành Người tiên phong - Đại sứ văn hóa dẫn dắt trà Việt Nam vươn ra toàn cầu. Để có thể vững “tay chèo” tiến ra thị trường trà toàn cầu, chè Việt, chè Thái cần xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đậm bản sắc dựa trên 2 trụ cột: Sức mạnh mềm văn hoá và công nghệ tiên tiến, thông minh bắt nhịp xu hướng phát triển xanh, hướng tới chức năng phụng sự sức khoẻ nhân loại. Để hoà nhập toàn cầu, chè Thái nhất thiết trang bị cho mình sức mạnh mềm từ văn hóa trà Việt.
Trại Cài vào vụ. Ảnh: Ngọc Hải.
1. Việt Nam “cái nôi” phát tích trà của nhân loại - Căn cốt văn hóa trà Việt
Đến giữa thế kỉ XX, giới khoa học quốc tế chưa có đầy đủ chứng cứ, công cụ để tiến hành các công trình khảo cứu khoa học nghiêm túc về nguồn gốc cây trà. Tuy nhiên ba thập niên cuối ở thế kỉ XX tình hình đã đổi khác. Sau ba công trình khoa học: “Thuyết tiến hoá trong lá chè”; “5000 năm văn minh Trà Việt” và “Khám phá nguồn gốc của trà” được công bố, cội nguồn chân thực của cây trà đã lộ diện.
Phải chờ đến năm 1974, lần đầu tiên, Viện sĩ K.M. Djemukhatze Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, mới công bố công trình chuyên khảo công phu tại Hội nghị “Thực vật học toàn cầu lần thứ 12” tổ chức tại Moscow, Liên Xô (1974). Bằng các phương tiện, thiết bị hiện đại nhất đương thời, Viện sĩ K.M. Djemukhatze đã trình làng chuỗi kết quả thực nghiệm về sự hình thành và tích lũy Casterin trên hàng loạt mẫu lá trà cổ thụ lấy từ: Tứ Xuyên, Vân Nam (Trung Quốc), từ Assam Ấn Độ và từ Suối Giàng, Phú Thọ, Việt Nam. Kết quả phân tích thật bất ngờ: “… cây chè cổ Việt Nam tổng hợp các Catechin đơn giản hơn nhiều cây trà Vân Nam; ở cây trà Vân Nam chất Catechin phức tạp hơn nhiều ở cây chè Việt Nam” và kết quả tương tự với mẫu chè từ Ấn Độ. Trên cơ sở khoa học đó, viện sĩ K.M. Djemukhatze đi đến kết luận thuyết phục rằng: “Cây trà vùng Vân Nam là loại hình tiến hóa sau cây trà Việt Nam”. Ông lập nên sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây trà thế giới cụ thể như sau: “Camellia (Chè hoang dã)>>> Thea Wetnamica (Chè Việt Nam) >>> Thea Fuinamica (Chè Vân Nam lá to) >>> Thea Sinensis (Chè Trung Quốc lá nhỏ) >>> Thea Assamica (Chè Assam Ấn Độ)”. Sau hàng loạt những chứng cứ khoa học, biện chứng, công trình đưa đến một kết luận đảo lộn toàn bộ mọi giả thiết về nguồn gốc cây trà trước đó và minh định: “Việt Nam là cái nôi của cây trà thế giới”. Tiến xa hơn nữa, viện sĩ K.M. Djemukhatze đề xuất đổi tên khoa học mới cho cây trà là: Thea Wetnamica (Trà Việt Nam) thay cho tên khoa học Thea Sinensis (Trà Trung Hoa) đã tồn tại sai lệch, lầm lẫn, suốt hơn hai thế kỉ.
Sau hơn 10 năm thu thâp chứng cứ, tài liệu, năm 2012, công trình khảo cứu “5000 năm Văn minh Trà Việt” của Nhà Trà học Trịnh Quang Dũng đã được công bố. Công trình khảo cứu nguồn gốc trà, văn hóa trà Việt dựa trên dữ liệu khoa học liên ngành: Khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, khoa học lịch sử và kho dữ liệu thu thập qua hàng chục cuộc điền dã khắp các rừng trà cổ thụ. Bằng tư duy logic, biện chứng, khảo cứu bổ sung nhiều chứng cứ quý hiếm từ nguồn tham khảo đồ sộ hơn 350 đầu sách (Việt Nam và quốc tế) khiến luận cứ: Việt Nam – “cái nôi” nơi phát tích của cây trà trên toàn cầu hiển hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết, gây sửng sốt thế giới trà. Khảo cổ phát lộ quả trà cổ 13.200 năm (trong di chỉ người Việt cổ) ở hang Con Moong Thanh Hóa; Lá chè hoá thạch ở Phú Thọ; Bình lắng cặn trà ở di chỉ Bán Pha /5600 năm TCN; ấm trà cổ thời Xích Quỷ - trà cụ Đông Sơn cổ thời Văn Lang, Nam Việt... Rồi truyền thuyết về trà, cứ liệu lịch sử về “Thần Nông - thủy tổ trà, người đầu tiên nếm và tìm ra trà cho nhân loại”. Ngài là thủy tổ người Việt, dạy dân Việt lối uống chè tươi theo cách sơ khai nhất từ thuở văn hóa hái lượm của loài người. Hiện lối uống chè tươi chỉ còn tồn tại duy nhất ở Việt Nam. Những tập tục riêng có của người Việt đã xác minh việc trà song hành với đời sống Việt từ thuở hồng hoang. Tục cúng cây chè tổ, tục mang trà đi hỏi vợ, tục dùng trà chữa bệnh lại là những “lát cắt” giá trị khác, phong phú thêm chuỗi bằng chứng nhân học về cội nguồn cổ xưa của trà. Giá đồng “Cô Tám đồi chè”, lệ dâng trà thờ thần thánh, tổ tiên, trong tín ngưỡng đạo Mẫu của người Việt cho thấy trà được Việt tộc nâng lên hàng chân phẩm linh thiêng. Đặc biệt quần thể hơn 10 triệu cây trà cổ thụ hoang dã, hàng trăm, thậm chí ngàn năm tuổi trên lãnh thổ Việt Nam là những bằng chứng sống động về cội nguồn trà Việt. Mặt khác, kho tàng những bài “Trà ca cổ”, ca dao truyền khẩu về trà đã minh triết một cách không thể sinh động hơn cho biên niên sử 5000 năm văn minh trà Việt. Từ đây, Nhà Trà học, nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng đã đi đến luận cứ: Việt Nam là vùng nguyên sinh,“Cái nôi”, nơi phát tích cây trà và phát tán ra toàn cầu.
Sau 60 năm len lỏi khắp các vùng trà cổ thụ hoang dã ở: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Vân Nam - Trung Quốc, Myanmar, Ấn Độ để tìm câu trả lời: Trà có nguồn gốc từ đâu? Giáo sư Satoru Matsushita (Nhật Bản) cho ra mắt công trình “Khám phá nguồn gốc của Trà” (2025). Lần theo dấu vết Bách Việt cổ, giáo sư tìm ra manh mối về cây trà hoang dã xuyên suốt hàng ngàn năm phát triển... Ông phát hiện ra rất nhiều sự thật thú vị đã bị bóp méo theo dòng thời gian. Người Dao, hậu duệ Bách Việt còn truyền thừa tập tục suốt đời làm trà, uống trà của tổ tiên và còn bảo tồn, lưu giữ 2 phương pháp chế biến trà cổ xưa là: Lôi trà (trà nghiền nát) và Đoàn trà (trà bánh). Theo Giáo sư, các vùng trà cổ xưa đều khu trú trong cương thổ Bách Việt và có lịch sử lâu đời gắn liền với Việt Nam. Người Hoa Hạ gọi đó là vùng đất của “Man di”, từng rất xa lạ với Hoa tộc. Từ đó giáo sư đi tới nhận định: “việc sử dụng trà bắt đầu được lan rộng thông qua sự tiếp xúc giữa người Hán và các dân tộc miền núi (Bách Việt). Tập quán sử dụng trà đã được truyền sang người Hán, dần phát triển ở Trung Quốc như ngày nay”.
Giáo sư Satoru Matsushita đề xướng "Thuyết Tam Địa của cây chè" gồm: Vùng nguyên sản - Vùng tự sinh và Vùng trồng trọt. Nghiên cứu kĩ càng về gen, đài hoa, hình thái đầu vòi nhụy cái trong thảm thực vật nguyên sinh thuộc khu rừng hỗn giao gồm đa dạng các loài chi trà lớn nhỏ, với Trà nhụy ngắn (Camellia kissi), Chè Assam, Hải đường (Camellia amplexicaulis), Trà Dali (Camellia taliensis), Trà mai/Sở (Camellia sasanqua)… ở Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, tồn tại thảm thực vật tập trung đông đảo các loài chi trà độc đáo, mà không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Giáo sư coi đó là một góc của vùng nguyên sản - nơi khởi nguồn (origin zone) của cây chè. Kết quả chỉ ra chính xác khu vực tập trung thảm thực vật chi Trà (Camellia) thuộc Sà Dề Phìn (Sa De Phin), Sìn Hồ (Sin Ho) tỉnh Lai Châu của Việt Nam. Vị giáo sư đã sung sướng thốt lên: “Tôi rất hạnh phúc, mãn nguyện được dừng chân sau hơn nửa thế kỉ khám phá vì đã tìm thấy vùng nguyên sản, nơi xuất xứ của cây trà”.
2. Trụ cột văn hóa, sức mạnh mềm, Thái Nguyên cần khai thác và phát huy
Thừa kế phần căn cốt văn hóa của trà Việt, chè Thái từ lâu đã vượt qua giới hạn của một thức uống quốc dân. Chén trà xanh khởi đầu câu chuyện hiện diện ở mọi lúc mọi nơi trong đời sống xã hội, định vị cho văn hóa uống của người Việt. Với vai trò người tiên phong dẫn dắt ngành Trà trung du Việt Nam, nơi chè Cánh Hạc – biểu tượng của chè Thái đã mang về giải Nhất quốc tế danh giá đầu tiên cho chè Việt Nam tại Hội chợ Đấu Xảo Hà Nội 1935. Từ đây thương hiệu “Chè Thái” được định vị, lên ngôi, mở ra con đường trà thênh thang cho con cháu vững bước tiếp nối.
“Khám phá nguồn gốc của Trà” của Giáo sư Satoru Matsushita.
Chè móc câu Thái mang hương cốm man mác đặc trưng cùng vị "Tiền chát - Hậu ngọt" sâu lắng, một thứ chuẩn bất thành văn của chè Thái đã “níu chân” bao thế hệ ẩm khách trên cả nước trong suốt hơn một thế kỷ qua… Tuy nhiên, thời vận đang đổi thay. Từ vị thế một quốc gia nghèo đói, tụt hậu thời hậu chiến, GDP chỉ vẻn vẹn 8 tỷ USD/năm (1976 -1986). Hiện Việt Nam đang vươn lên một cách thần kỳ nâng GDP đạt 514 tỷ USD/2025, tiếp cận TOP cường quốc G20 của thế giới. Cơ cấu dân số thay đổi tích cực với lực lượng trẻ chiếm hơn 35% dân số và hứa hẹn tầng lớp trung lưu có thu nhập cao chiếm 30% vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, bài toán đổi mới toàn diện để phát triển cho trà Thái Nguyên là khá cấp bách. Tất nhiên đổi mới phải bắt đầu từ trụ cột văn hóa. Văn hóa trà Việt đang tồn tại một khiếm khuyết “đau đớn” đó là thiếu vắng khâu đào tạo nguồn nhân lực hiểu biết đầy đủ về văn hoá trà Việt để thúc đẩy phát triển. Đào tạo kiến thức văn hoá trà Việt một cách bài bản, nhất quán và chính thống là nhu cầu hết sức cấp thiết. Nghệ nhân làm trà có thể truyền thừa theo cách truyền thống “dắt tay chỉ việc”, song để họ được trang bị kiến thức văn hóa về 5000 năm Văn minh Trà Việt, cần có trường lớp, bài bản. Những kiến thức mới được đào tạo giúp họ thay đổi tư duy sáng tạo, tạo ra sản phẩm mới, cách quảng bá, kinh doanh mới theo kịp chuyển biến thị trường trà Việt Nam và toàn cầu. Khổng tử (551 –- 479 TCN) từng dạy học trò: “Dân Bách Việt ăn khác chúng ta, uống khác chúng ta. Họ ăn mễ, chúng ta ăn lương, họ uống thứ nước nấu bằng lá cây lấy trong rừng gọi là trà”. Trung Quốc chưa biết tới trà trước 1400 năm trước (thời Đường). Tuy nhiên họ đã có hệ thống viện, trường rất chuyên nghiệp đào tạo ra nguồn nhân lực hùng hậu thúc đẩy nghề trà phát triển vượt bậc. Ở Nhật Bản và Đài Loan - cũng đã có hệ thống đào tạo văn hoá trà chính thống và bài bản. Ở Việt Nam hệ thống đào tạo về trà hoàn toàn vắng bóng. Năm 2024, Học viện Trà sư Quốc tế (TP. Hồ Chí Minh) lần đầu tiên mở các khoá đào tạo trà và cấp chứng nhận Trà sư cho học viên ở Việt Nam. Nhưng oái ăm ở chỗ, họ dạy và quảng bá văn hoá trà xứ Đài! Một cuộc “viễn chinh” văn hóa trà ngay trên đất Việt Nam. Đây chính là cơ hội và trách nhiệm của Thái Nguyên “Thủ phủ trà Việt Nam”, phải trở thành đơn vị tiên phong gánh vác trọng trách đào tạo nguồn nhân lực trà cho chính mình và cả nước. Chỉ khi Việt Nam có đội ngũ nhân lực tinh thông văn hoá trà Việt, sản phẩm trà mới sâu lắng hồn cốt, bản sắc Việt, đủ sức vươn ra cạnh tranh toàn cầu. Hiện cách đóng gói, hình thức bao bì sản phẩm trà Thái Nguyên nhìn chung khá đơn điệu, trùng lặp thiếu điểm nhấn riêng. Rất cần một luồng gió mới cải cách tư duy trong thiết kế mẫu mã mang bản sắc, đặc trưng riêng. Thương hiệu chè Cánh Hạc đình đám, một thời mang lại hào quang cho chè Thái dường như lặng lẽ trôi vào quá vãng đầy tiếc nuối. Thắng cảnh hồ Núi Cốc vang danh cả nước khiến ai ai cũng biết, cũng mến mộ lại chưa được khai thác cho một danh chè Thái cũng là điều uổng phí vô cùng. Vườn chè cổ từ thời cụ Đội Năm (vườn chè nhà anh Phạm Văn Nhật) lẽ ra phải là điểm nhấn du lịch, lại mới chỉ được khai thác giá trị vật thể của cây chè, còn giá trị phi vật thể của chè Cánh Hạc năm nào gắn với lịch sử chè Tân Cương danh bất hư truyền lại hoàn toàn thiếu vắng. Nguồn tài nguyên “văn hoá sử chè Thái Nguyên” chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng mức và dường như đang bị hoang phí mặc cho người dân tự xoay sở theo cách riêng của mình.
Sẽ vô cùng thiếu sót khi xứ “Đệ nhất danh trà” vắng bóng một Bảo tàng Quốc gia về trà để kể về những đỉnh vinh quang của chính mình và của cả dân tộc, để mở toang cánh cửa thông ra thế giới mà giới thiệu về nền văn minh trà Việt - cái nôi, nơi cây trà phát tích lan toả ra toàn cầu. Và, khi con cháu 3 - 4 đời thừa hưởng lộc trà suốt cả thế kỷ từ thương hiệu chè Tân Cương Thái Nguyên mà quên xây dựng một khu tưởng niệm hoành tráng trong không gian xưởng chè xưa ngập tràn ký ức từng làm rạng danh chè Thái. Rất nên trang trọng dựng tượng cụ Đội Năm, để mỗi khi du khách phương xa tới thăm đất chè có chỗ thắp nén hương thơm, tri ân cụ Tổ trà Thái Nguyên - Đó là địa chỉ du lịch đắt giá riêng có của văn hóa chè Thái Nguyên. Tiềm năng du lịch Chè Thái là vùng đất văn hóa màu mỡ, nhưng hiện vẫn để trống ngoài vài hình thái du lịch trải nghiệm hái chè - Homestay như ở HTX Khe Cốc, HTX Thái Hải hay vài nơi nào khác. Du lịch trải nghiệm ở HTX chè Hảo Đạt, có “cái tôi” riêng với điểm nhấn lý thú nơi vườn chè nơi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về thăm và hái chè. Nhìn chung hoạt động du lịch khá tốt, song chưa thực sự hiệu quả vì hình thức khá trùng lặp, chưa tạo sức cuốn hút và níu chân lữ khách. Tour “Du lịch mạo hiểm trà” lên rừng chè cổ thụ núi Bóng (núi Hồng), rừng chè Shan tiên, chè Móng rồng trên sườn Đông Tam Đảo sẽ mở ra dư địa du lịch mới cho văn hoá chè Thái thu hút không ít những du khách ham mê cảm giác mạnh khắp Việt Nam và trên toàn cầu. Du lịch đêm là thị trường ma mị hút hồn khách phương xa mà Thái Nguyên còn lỡ hẹn. Lễ hội đêm ẩm thực các món ăn trà trên du thuyền hay tiệc trà ngắm trăng trong âm thanh réo rắt trên những con đò bồng bềnh mặt hồ Núi Cốc hẳn sẽ là sân chơi mới đầy tiềm năng cho văn hóa chè Thái. Ở mảng du lịch, nên chăng chè Thái phải đầu tư cho mình một show diễn “Thực cảnh văn hoá chè Thái” hoành tráng, xứng tầm với danh thơm "Đệ nhất danh trà", vừa để quảng bá chính mình, vừa là món ăn tinh thần giữ chân du khách phương xa và là “cái máy in tiền” khi biết làm đúng tầm.
Truyền thuyết về chè Shan cổ thụ núi Bóng, với hình tượng “rừng chè của các tiên ông ngự trị” sẽ là một phần hấp dẫn cuốn hút khách viễn du đến với “Thực cảnh văn hóa chè Thái”.
Trong những năm gần đây Thái Nguyên khá năng động trong hoạt động maketing sản phẩm qua các phiên đấu giá, lễ hội ẩm thực trà. Tuy nhiên chúng chưa đi được sâu, xâm nhập thực chất vào đời sống xã hội và thương trường. Đấu giá mới chỉ dừng lại ở hiệu ứng quảng bá, chưa thành sàn đấu giá thực thụ mang lại lợi ích cho sản phẩm chất lượng cao, cho nhà sản xuất và nâng cao vị thế và giá trị thương hiệu Thái Nguyên.
3. Trụ cột Công nghệ để lan toả và hòa nhập tiến ra toàn cầu
Trong kỷ nguyên số hóa, các sản phẩm văn hoá chè Thái muốn cất cánh bay cao, bay xa, rất cần sự hỗ trợ của khoa học công nghệ. Trước hết về sản phẩm chè Thái phải phát triển theo hướng hữu cơ xu hướng sản phẩm xanh toàn cầu với các chuẩn GlobalGAP và VietGAP. Công nghệ đã giúp vườn trà nguyên liệu của HTX chè La Bằng thực hiện theo quy trình hữu cơ nghiêm cẩn, sử dụng bột đậu tương, chuối và trứng gà để bón cho cây chè tạo ra sản phẩm chè độc đáo cán mốc đấu giá 68 triệu đồng/kg. Ứng dụng công nghệ sản xuất hữu cơ, HTX chè Khe Cốc đi tiên phong đạt tiêu chuẩn “Nông nghiệp hữu cơ Quốc gia TCVN 11041 – 2:2017”.
Nhà Trà học Trịnh Quang Dũng.
Sản phẩm chè của HTX dược cấp chứng chỉ EU Organic tấm visa quý giá vào toàn châu Âu. HTX chè Khe Cốc còn giữ vững kỷ lục xuất trà đi thị trường Nhật với giá thương mại ổn định 1.000USD/kg trà”. Anh Tô Văn Khiêm còn Dát vàng cho trà! áp dụng công nghệ dát vàng thịt bò Kobe, để “bọc dát vàng” lên từng cánh chè theo tỷ lệ 1 chỉ vàng/1kg chè khô. Kết quả gõ búa đấu giá cho phẩm trà tím dát vàng của HTX Khe Cốc đã chốt: 200 triệu đồng/1kg trà dát vàng. Đỉnh cao là sản phẩm chè Shan tiên Tam Đảo của nghệ nhân Nguyễn Thị Hải HTX La Bằng chốt đấu giá ở mức 268 triệu đồng/100gr. Công nghệ còn là chìa khoá giúp quản lý số, quét mã QR truy dẫn nguồn gốc xuất xứ, giúp giám sát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường nâng cao giá trị sản phẩm. Công nghệ số hoá giúp đưa tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương và chè Thái Nguyên không còn là tài sản đóng băng trong ký ức, đã chính thức được ghi danh vào “Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” (TC/2023 và TN/2026). Mở ra hướng sinh kế bền vững, huyết mạch nuôi sống hàng vạn hộ gia đình làm chè. Công nghệ đang hỗ trợ các chỉ số phát triển ngành chè Thái Nguyên chuyển mình mạnh mẽ hướng đến mục tiêu chuỗi giá trị tỷ USD. 6 sản phẩm chè Thái xuất sắc đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia (HTX Hảo Đạt 2 sản phẩm; HTX Hương Vân Trà 2 sản phẩm; HTX La Bằng 1 sản phẩm và HTX Nông sản Phú Lương 1 sản phẩm), tạo ra phân khúc chè cao cấp đủ sức cạnh tranh với các thương hiệu trà danh tiếng toàn cầu.
Đã có chuyển dịch trong tư duy sáng tạo qua cách tổ chức các sự kiện văn hoá ở Thái Nguyên. Festival Trà quốc tế Thái Nguyên 2026, Tập đoàn Thái Hưng đã ứng dụng công nghệ số để lần đầu tiên mở sân chơi mới phi truyền thống World Tea Master Vietnam. Cái hay ở chỗ, đây là cuộc chơi hướng tới lớp trẻ, thế hệ khách hàng tiềm năng của chè Thái trong tương lai gần.
Đã đến lúc cần một nhạc trưởng tài ba chỉ huy, tập hợp mọi ưu thế liên ngành để cả “Ban nhạc chè Thái Nguyên” đồng tấu lên bản hoan ca “văn hóa Chè Thái” tràn ngập cung bậc để nó vang xa toàn cầu, chạm tới mọi con tim và lay động hồn người.
Bình luận